← Về trang Kiến thức

Cổ tức (Dividend) là gì? Điều kiện chia cổ tức theo luật pháp Việt Nam

Kiến thức • Quản trị
Bảng thông báo chia cổ tức có tỷ lệ đỏ nối tới chồng xu, cổ phiếu và hộp tài sản dành cho cổ đông

Một tỷ lệ cổ tức có thể được tính trên mệnh giá, trong khi số tiền thực nhận còn phụ thuộc thuế và số cổ phiếu được hưởng quyền. Với cổ tức bằng cổ phiếu, ngày chốt danh sách cũng khác thời điểm số cổ phiếu mới được phép giao dịch.

Sansan Academy giải thích các điều kiện chia cổ tức của công ty cổ phần tại Việt Nam và cách đọc một phương án chi trả. Những phân biệt về số tiền, quyền nhận và thời điểm thực hiện giúp bạn đối chiếu thông báo với khoản cổ tức được ghi nhận.

Cổ tức là gì?

Cổ tức, hay Dividend, là khoản lợi nhuận sau thuế được trả cho mỗi cổ phần. Số cổ tức cổ đông nhận phụ thuộc vào số cổ phần được hưởng quyền và điều kiện của loại cổ phần đó.

Chia cổ tức, hay Dividend Distribution, là việc công ty cổ phần phân phối một phần lợi nhuận sau thuế cho cổ đông theo quyền được hưởng. Cổ đông có thể nhận tiền, cổ phiếu hoặc tài sản khác theo phương án được thông qua.

Phần lợi nhuận chưa phân phối có thể được giữ lại để bổ sung vốn và phục vụ hoạt động của công ty. Vì vậy, việc doanh nghiệp có lãi cần được phân biệt với quyết định chia cổ tức và thời điểm thực hiện chi trả.

Điều kiện để doanh nghiệp chia cổ tức

Các điều kiện dưới đây tập trung vào việc trả cổ tức của cổ phần phổ thông. Với cổ phần ưu đãi cần kiểm tra thêm những điều kiện riêng áp dụng cho loại cổ phần đó.

Nguồn lợi nhuận và nghĩa vụ tài chính trước khi chia cổ tức

Theo Điều 135 Luật Doanh nghiệp, cổ tức của cổ phần phổ thông được xác định từ lợi nhuận ròng đã thực hiện và chi trả từ nguồn lợi nhuận giữ lại. Trước khi phân phối, công ty phải hoàn thành nghĩa vụ thuế, các nghĩa vụ tài chính khác, trích lập quỹ và bù đắp lỗ trước đó theo pháp luật cùng điều lệ.

Bậc thang từ lợi nhuận đã thực hiện, nghĩa vụ thuế, trích quỹ đến lợi nhuận giữ lại trước khi chia cổ tức
Một kỳ báo lãi chưa đủ, công ty phải xong thuế, trích quỹ và bù lỗ trước khi chia cổ tức

Một khoản doanh thu đã ghi nhận chưa tự trở thành nguồn có thể chia cho cổ đông. Khi đọc phương án cổ tức, cần xem phần lợi nhuận còn được phép phân phối sau khi thực hiện những nghĩa vụ này.

Khả năng thanh toán các khoản nợ sau khi chia cổ tức

Ngay sau khi trả hết cổ tức, công ty vẫn phải bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn. Lợi nhuận kế toán vì thế cần được xem cùng khả năng có tiền để chi trả. Chẳng hạn, một doanh nghiệp trong tình huống giả định báo lãi nhưng chưa thu được khoản phải thu lớn có thể thiếu tiền cho các nghĩa vụ sắp đến hạn. Phương án chia cổ tức cần tính đến nguồn tiền sẵn có và lịch thanh toán, không chỉ dựa trên số lãi đã ghi nhận.

Thẩm quyền quyết định mức cổ tức và phương án chi trả

Đại hội đồng cổ đông quyết định mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần. Hội đồng quản trị kiến nghị mức cổ tức, quyết định thời hạn và thủ tục chi trả trong phạm vi thẩm quyền. Vai trò quyết định mức chia khác với việc triển khai một đợt trả cổ tức cụ thể.

Nghị quyết và thông báo triển khai cho biết phương án đang ở bước nào, từ mức được thông qua đến lịch và cách thực hiện. Một đề xuất trình đại hội chưa xác định đủ những thông tin này.

Các hình thức chia cổ tức

Hình thức chi trả quyết định cổ đông nhận tiền hay tăng số cổ phiếu hoặc nhận tài sản khác. Cần xem thông báo cụ thể vì cách thực hiện và nghĩa vụ liên quan không hoàn toàn giống nhau.

Ba bệ tiền mặt, cổ phiếu và tài sản khác, ba hình thức chia cổ tức mà cổ đông có thể nhận
Cổ đông có thể nhận tiền, thêm cổ phiếu hoặc tài sản khác, nên cần đọc kỹ thông báo của từng đợt chi trả

Chia cổ tức bằng tiền mặt

Thông báo trả cổ tức bằng tiền mặt có thể ghi mức tiền trên mỗi cổ phiếu hoặc tỷ lệ trên mệnh giá. Khi tỷ lệ được công bố trên mệnh giá, số tiền phải tính theo mệnh giá nêu trong thông báo, không theo giá mua trên thị trường.

Với cá nhân cư trú nhận khoản cổ tức thuộc diện chịu thuế, thuế suất thu nhập từ đầu tư vốn là 5% theo quy định áp dụng từ ngày 1/7/2026. Khoản nhận vào tài khoản cần được đối chiếu với giá trị trước thuế và phần đã khấu trừ.

Chia cổ tức bằng cổ phiếu

Trả cổ tức bằng cổ phiếu chuyển nguồn lợi nhuận sang vốn cổ phần theo phương án được phê duyệt. Cổ đông nhận thêm cổ phiếu theo tỷ lệ được công bố, không nhận tiền mặt từ phần cổ tức này. Khác với thực hiện quyền mua cổ phiếu mới, người nhận không phải nộp tiền mua số cổ phiếu trả cổ tức.

Theo quy định thuế năm 2026, cá nhân cư trú chưa phải nộp thuế thu nhập từ đầu tư vốn khi nhận cổ tức bằng cổ phiếu. Khi chuyển nhượng cổ phiếu cùng loại, cá nhân phải nộp khoản thuế đầu tư vốn chưa nộp cho đến khi hết số cổ phiếu nhận thay cổ tức theo quy định. Nghĩa vụ này được xác định bên cạnh thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán.

Chia cổ tức bằng tài sản khác theo điều lệ công ty

Công ty có thể trả cổ tức bằng tài sản khác được quy định trong điều lệ. Phương án cần xác định loại tài sản và phần mỗi cổ đông được nhận, cùng cách định giá, bàn giao và những thủ tục liên quan. Cổ đông cần xem các thông tin này để biết tài sản sẽ được chuyển đến mình theo cách nào.

Khiên và danh sách kiểm tra điều lệ, định giá, bàn giao, thủ tục khi chia cổ tức bằng tài sản khác
Giá trị công bố bằng tiền chưa bảo đảm tài sản nhận được có thể bán ngay với đúng mức đó

Cần phân biệt giá trị quy đổi trong thông báo với số tiền có thể thu được nếu bán tài sản. Khả năng bán và giá thực tế còn phụ thuộc đặc điểm tài sản cùng điều kiện tại thời điểm chuyển nhượng.

Cách tính cổ tức được chia

Để tính cổ tức, bạn cần kiểm tra số cổ phiếu được hưởng quyền và tỷ lệ chi trả trong thông báo của doanh nghiệp. Các ví dụ dưới đây là giả định để minh họa cách tính.

Công thức tính cổ tức bằng tiền mặt và ví dụ

Tiền cổ tức trước thuế bằng số cổ phiếu được hưởng quyền nhân với tiền cổ tức trên mỗi cổ phiếu. Trong công thức dưới đây, N là số cổ phiếu được hưởng quyền và C là tiền cổ tức trên mỗi cổ phiếu.

N \times C

Giả sử bạn có 1.000 cổ phiếu được hưởng quyền. Doanh nghiệp trả cổ tức tiền mặt 20% tính trên mệnh giá 10.000 đồng, tương ứng mỗi cổ phiếu nhận 2.000 đồng.

10{.}000 \times 20\% = 2{.}000 1{.}000 \times 2{.}000 = 2{.}000{.}000

Trong ví dụ này, người nhận là cá nhân cư trú và khoản cổ tức thuộc diện chịu thuế đầu tư vốn với thuế suất 5%. Tiền thuế đối với khoản cổ tức 2.000.000 đồng là 100.000 đồng.

2{.}000{.}000 \times 5\% = 100{.}000

Nếu không có khoản khấu trừ khác, số tiền thực nhận là 1.900.000 đồng. Bạn lấy tiền cổ tức trước thuế trừ đi tiền thuế như sau:

2{.}000{.}000 - 100{.}000 = 1{.}900{.}000

Công thức tính cổ tức bằng cổ phiếu và cách xử lý cổ phiếu lẻ

Số cổ phiếu nhận thêm bằng số cổ phiếu được hưởng quyền nhân với tỷ lệ trả cổ tức bằng cổ phiếu. Trong công thức dưới đây, N là số cổ phiếu được hưởng quyền và r là tỷ lệ nhận thêm.

N \times r

Tỷ lệ 10:3 có nghĩa cứ 10 cổ phiếu được hưởng quyền thì nhận thêm 3 cổ phiếu, tương đương 30%. Nếu bạn có 101 cổ phiếu được hưởng quyền, số cổ phiếu nhận thêm trước khi xử lý phần lẻ được tính như sau:

Máy tính hiện 101 nhân 30% bằng 30,3 cạnh thẻ tỷ lệ 10:3, chồng 30 cổ phiếu và phần lẻ 0,3 khi chia cổ tức
Với tỷ lệ 10:3, kết quả là 30,3 cổ phiếu. Nếu phương án làm tròn xuống, cổ đông nhận 30, còn phần lẻ được xử lý theo thông báo.
101 \times 30\% = 30{,}3

Nếu phương án trả cổ tức quy định làm tròn xuống, bạn nhận thêm 30 cổ phiếu. Phần 0,3 cổ phiếu còn lại được xử lý theo phương án doanh nghiệp công bố và không mặc nhiên được quy đổi thành tiền.

Khóa học CEO

Phát triển năng lực nhìn toàn doanh nghiệp, lựa chọn ưu tiên và xây cơ chế thực thi cho vai trò CEO.

Xem khóa học

Phần lẻ thập phân này khác với cổ phiếu thuộc lô lẻ giao dịch. Chẳng hạn, 30 cổ phiếu nguyên vẫn có thể được ghi nhận trong tài khoản dù số lượng chưa đủ một lô giao dịch thông thường.

Phân biệt tỷ lệ chia cổ tức với tỷ suất cổ tức

Tỷ lệ chia cổ tức trên mệnh giá và Dividend Yield, tức tỷ suất cổ tức theo thị giá, sử dụng hai cơ sở tính khác nhau. Dividend Yield trong ví dụ được tính từ tổng cổ tức tiền mặt trên mỗi cổ phiếu trong năm, không phải tổng lợi nhuận đầu tư.

Trong công thức dưới đây, C là cổ tức tiền mặt trên mỗi cổ phiếu, M là mệnh giá và P là thị giá. Ví dụ giả định doanh nghiệp trả tổng cổ tức tiền mặt trong năm là 2.000 đồng mỗi cổ phiếu, với mệnh giá 10.000 đồng và thị giá 40.000 đồng.

Tiêu chíTỷ lệ chia cổ tức trên mệnh giáTỷ suất cổ tức theo thị giá
Cơ sở tínhMệnh giá của cổ phiếuGiá thị trường tại thời điểm đánh giá
Công thức\frac{C}{M} \times 100\%\frac{C}{P} \times 100\%
Phép tính minh họa\frac{2{.}000}{10{.}000} \times 100\% = 20\%\frac{2{.}000}{40{.}000} \times 100\% = 5\%
Ý nghĩa trong ví dụCổ tức tiền mặt bằng 20% mệnh giáCổ tức tiền mặt trong năm bằng 5% thị giá
Mục đích sử dụngHiểu mức chi trả khi doanh nghiệp công bố tỷ lệ trên mệnh giáXem mức cổ tức tiền mặt trong tương quan với giá cổ phiếu

Nếu dùng giá mua của mình làm cơ sở tính, bạn cần ghi rõ đó là tỷ suất cổ tức theo giá vốn. Khi đánh giá lợi nhuận đầu tư, cần xem thêm biến động giá cổ phiếu cùng thuế và chi phí giao dịch.

Các mốc thời gian cần biết khi nhận cổ tức

Ngày chốt quyền và ngày nhận tiền là những mốc khác nhau. Với cổ tức bằng cổ phiếu còn cần theo dõi thời điểm chứng khoán được phân bổ và chính thức được phép giao dịch.

Ngày giao dịch không hưởng quyền

Trong giao dịch khớp lệnh, người mua cổ phiếu từ ngày giao dịch không hưởng quyền không nhận cổ tức của đợt đang chốt. Người đã nắm giữ đủ điều kiện trước ngày này vẫn giữ quyền của đợt đó khi bán cổ phiếu tại ngày không hưởng quyền.

Lộ trình các mốc mua thứ Hai, không hưởng quyền thứ Ba, đăng ký cuối cùng thứ Tư trong một đợt chia cổ tức
Mua khớp lệnh từ ngày không hưởng quyền thì không nhận cổ tức của đợt đó, dù ngày chốt danh sách còn ở sau

Hướng dẫn của VSDC xác định mốc này là ngày làm việc liền trước ngày đăng ký cuối cùng, tính theo ngày giao dịch và không gồm ngày nghỉ, ngày lễ. Chẳng hạn, nếu thông báo ghi ngày không hưởng quyền là thứ Ba và ngày đăng ký cuối cùng là thứ Tư, người mua khớp lệnh từ thứ Ba không nhận quyền của đợt đó. Vì vậy, lịch chính thức của từng đợt là căn cứ cần xem, không chỉ ngày chốt danh sách.

Ngày đăng ký cuối cùng để chốt danh sách cổ đông

Ngày đăng ký cuối cùng xác định người sở hữu được nhận quyền của đợt chi trả. Với chứng khoán đăng ký tại VSDC, danh sách được lập và quyền được tính trên cơ sở dữ liệu sở hữu tại mốc này. Cần đối chiếu giao dịch và thông tin quyền với đúng ngày đã công bố. Số cổ phiếu đang hiển thị trong tài khoản tại một thời điểm khác chưa đủ để kết luận về quyền đã chốt.

Ngày thanh toán tiền và thời điểm cổ phiếu cổ tức được giao dịch

Điều 135 Luật Doanh nghiệp quy định cổ tức phải được thanh toán đầy đủ trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày kết thúc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên. Thời hạn này không được tính từ ngày đăng ký cuối cùng. Với cổ tức tiền mặt, cổ đông theo dõi ngày thanh toán cụ thể trong thông báo triển khai.

Với cổ tức bằng cổ phiếu, việc hoàn tất phát hành, ghi nhận cổ phiếu và được phép giao dịch là những bước cần phân biệt. Tài khoản hiển thị quyền nhận hoặc cổ phiếu chờ về chưa xác nhận rằng số cổ phiếu đó đã có thể bán.

Cách tra cứu lịch chia cổ tức và thông báo của doanh nghiệp

Thông tin có thể được đối chiếu tại mục quan hệ cổ đông của doanh nghiệp, hệ thống công bố thông tin của sở giao dịch và website VSDC. Khi đọc một thông báo, cần xác định:

  • Mã cổ phiếu và đợt cổ tức đang được thực hiện.
  • Hình thức chi trả, tỷ lệ hoặc mức tiền trên mỗi cổ phiếu.
  • Ngày đăng ký cuối cùng, ngày thanh toán và mốc giao dịch của cổ phiếu nhận thêm nếu có.
  • Thông báo điều chỉnh hoặc hướng dẫn xử lý phần lẻ liên quan đến đợt đó.

Lịch tổng hợp trên ứng dụng có thể hỗ trợ tra cứu, nhưng khi dữ liệu khác nhau cần xem bản công bố chính thức và các lần điều chỉnh sau đó.

Thủ tục nhận cổ tức

Cách nhận cổ tức phụ thuộc vào việc cổ phiếu đã được lưu ký hay chưa. Cổ đông cần làm việc với đúng đầu mối đang quản lý chứng khoán và thông tin sở hữu của mình.

So sánh cổ phiếu đã lưu ký nhận qua công ty chứng khoán và cổ phiếu chưa lưu ký nhận tại doanh nghiệp
Cổ phiếu đã lưu ký hay chưa quyết định cổ đông cần liên hệ công ty chứng khoán hay doanh nghiệp phát hành

Nhận cổ tức đối với cổ phiếu đã lưu ký

Với cổ phiếu đã lưu ký, quyền được ghi nhận theo danh sách và phân bổ qua thành viên lưu ký nơi cổ đông mở tài khoản. Cách ghi có tiền hoặc cập nhật cổ phiếu được thực hiện theo thông báo của đợt chi trả. Việc nhận cổ tức không phải đăng ký mua và nộp tiền như khi thực hiện quyền mua cổ phiếu.

Sau ngày thanh toán hoặc phân bổ, có thể đối chiếu quyền đã chốt với số tiền hay số cổ phiếu được ghi nhận. Tiền thực nhận cần tính đến khoản khấu trừ, còn số cổ phiếu nguyên nhận thêm phụ thuộc phương án xử lý phần lẻ.

Nhận cổ tức đối với cổ phiếu chưa lưu ký

Cổ đông chưa lưu ký thực hiện thủ tục theo thông báo của doanh nghiệp hoặc đơn vị được ủy quyền quản lý cổ đông. Hướng dẫn của từng đợt xác định nơi tiếp nhận, hồ sơ xác nhận danh tính và quyền sở hữu, cùng phương thức nhận. Nếu thông tin cá nhân đã thay đổi hoặc có người nhận thay, cần kiểm tra yêu cầu cập nhật và căn cứ ủy quyền với đúng đầu mối này. Hồ sơ của một đợt khác không mặc nhiên đáp ứng thủ tục đang áp dụng.

Kiểm tra quyền nhận cổ tức và xử lý khi chưa nhận được

Khi chưa thấy cổ tức được ghi nhận, cần xác định đợt chi trả đã đến ngày thanh toán hoặc phân bổ hay vẫn đang chờ triển khai. Những thông tin nên đối chiếu gồm:

Bàn làm việc với bảng quyền nhận cổ tức, lịch sử tiền và điện thoại khóa mã OTP không gửi cho ai
Khi chưa nhận cổ tức, hãy đối chiếu số cổ phiếu, ngày thanh toán, lịch sử tiền và không gửi mã xác thực cho ai
  • Số cổ phiếu đủ điều kiện và quyền nhận đã chốt cho đúng đợt.
  • Lịch sử tiền hoặc cổ phiếu được ghi nhận, cùng khoản khấu trừ và xử lý phần lẻ nếu có.
  • Thông báo điều chỉnh lịch và đầu mối tiếp nhận thắc mắc của đợt chi trả.

Cổ phiếu đã lưu ký được kiểm tra qua thành viên lưu ký, còn cổ phiếu chưa lưu ký qua doanh nghiệp hoặc đơn vị quản lý cổ đông được nêu trong thông báo. Không gửi mật khẩu hay mã xác thực tài khoản cho người tự xưng là bên hỗ trợ nhận cổ tức.

Những lưu ý khi đánh giá phương án chia cổ tức

Phương án chia cổ tức cần được đặt trong tình trạng tài chính và kế hoạch sử dụng vốn của doanh nghiệp. Số tiền hoặc số cổ phiếu được nhận chưa phản ánh đầy đủ thay đổi về giá trị đầu tư.

Điều chỉnh giá tham chiếu tại ngày giao dịch không hưởng quyền

Giá tham chiếu tại ngày không hưởng quyền được điều chỉnh theo quy tắc giao dịch áp dụng, có những trường hợp đặc biệt cần xem riêng. Điều chỉnh kỹ thuật này khác với giá khớp lệnh thực tế, vốn còn chịu tác động của cung cầu.

Trong ví dụ giả định chỉ có cổ tức tiền mặt, giá lý thuyết là giá trước quyền trừ tiền cổ tức trên mỗi cổ phiếu: 40.000 − 2.000 = 38.000 đồng. Nếu chỉ có cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 25%, mức tính lý thuyết là 40.000 ÷ 1,25 = 32.000 đồng. Các phép tính đơn giản này không thay thế giá tham chiếu do sở giao dịch xác định, nhất là khi nhiều quyền phát sinh cùng đợt.

Tác động của cổ tức bằng cổ phiếu đến số lượng cổ phiếu và tỷ lệ sở hữu

Nếu tất cả cổ đông được phân bổ cổ tức bằng cổ phiếu cùng một tỷ lệ, số cổ phiếu họ nắm giữ và tổng số cổ phiếu công ty cùng tăng. Tỷ lệ sở hữu về cơ bản được giữ nguyên, trước những ảnh hưởng từ phần lẻ hoặc thay đổi khác. Đây là việc chuyển nguồn lợi nhuận sang vốn cổ phần, không phải doanh nghiệp nhận thêm tiền mua cổ phiếu từ cổ đông.

Trước và sau chia cổ tức bằng cổ phiếu, chồng cổ phiếu cao hơn nhưng phần sở hữu 10% trên biểu đồ tròn giữ nguyên
Khi tất cả cổ đông được phân bổ cùng tỷ lệ, tỷ lệ sở hữu về cơ bản giữ nguyên. Trả cổ tức bằng cổ phiếu không đưa thêm tiền mua cổ phiếu vào công ty.

Số cổ phiếu lưu hành mới cần được dùng đúng khi đọc các chỉ tiêu trên mỗi cổ phiếu. Giá trị kinh tế của khoản đầu tư vẫn phải xem cùng giá và tình trạng tài chính của công ty, không chỉ dựa vào số cổ phiếu nhận thêm.

Phân biệt cổ phiếu trả cổ tức với cổ phiếu thưởng và quyền mua cổ phiếu

Ba hình thức này khác nhau về nguồn thực hiện và việc cổ đông có phải nộp tiền mua hay không. Nếu cùng xuất hiện trong một thông báo, cần đọc riêng từng quyền.

Tiêu chíCổ phiếu trả cổ tứcCổ phiếu thưởng từ nguồn vốn chủ sở hữuQuyền mua cổ phiếu
Mục đíchPhân phối cổ tức bằng cổ phiếuTăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu theo phương ánCho phép cổ đông đăng ký mua cổ phiếu phát hành thêm
Nguồn thực hiệnNguồn lợi nhuận dùng để trả cổ tứcNguồn vốn chủ sở hữu đủ điều kiện theo phương ánVốn huy động từ người đăng ký mua
Có phải nộp tiền mua không?KhôngKhôngCó nếu thực hiện quyền mua
Cách xác định số lượngTheo số cổ phiếu đủ điều kiện và tỷ lệ cổ tứcTheo tỷ lệ phân bổ được công bốTheo tỷ lệ quyền và số lượng đăng ký hợp lệ
Việc cần theo dõiPhân bổ và xử lý phần lẻ cùng ngày giao dịchPhương án phân bổ và thời điểm được giao dịchThời hạn đăng ký cùng giá mua và hạn nộp tiền

Cổ phiếu trả cổ tức và cổ phiếu thưởng được phân bổ theo phương án, còn quyền mua cần được thực hiện theo điều kiện đăng ký và nộp tiền. Việc có quyền mua chưa xác nhận cổ đông đã sở hữu số cổ phiếu phát hành thêm.

Đánh giá cổ tức cùng dòng tiền và nhu cầu tái đầu tư của doanh nghiệp

Phương án chia cổ tức cần được đọc cùng khả năng tạo dòng tiền và kế hoạch sử dụng vốn. Những câu hỏi cần xem xét là:

  • Tiền cho đợt chi trả đến từ hoạt động nào và có sẵn vào thời điểm thanh toán không?
  • Sau khi trả cổ tức, công ty còn nguồn lực cho hoạt động, đầu tư và nghĩa vụ đến hạn ra sao?
  • Lịch sử chi trả có phù hợp với kết quả kinh doanh và kế hoạch đã được thông qua không?

Một mức cổ tức cao trong một năm chưa xác định khả năng duy trì ở những năm sau. Đối chiếu nguồn tiền với mục tiêu sử dụng vốn giúp hiểu lựa chọn phân phối của doanh nghiệp, thay vì chỉ so tỷ lệ cổ tức giữa các công ty.

Kết luận

Trước mỗi đợt chia cổ tức, thông báo chính thức cần được đọc cùng số cổ phiếu được hưởng quyền và hình thức chi trả. Số tiền trước thuế, tiền thực nhận, quyền đã chốt và cổ phiếu được phép giao dịch là những thông tin khác nhau. Khi đánh giá khoản cổ tức, cần đặt chúng trong tình trạng tài chính của công ty và biến động giá, để số tiền hoặc số cổ phiếu nhận thêm không bị hiểu nhầm là toàn bộ lợi nhuận đầu tư.

Bài viết liên quan