GDP tăng vọt, vì sao người dân vẫn chật vật với cơm áo gạo tiền?

Tấm hình công nhân xây dựng trên công trường

Kinh tế tăng trưởng nhanh mở rộng cơ hội việc làm và thu nhập, nhưng mức hưởng lợi khác nhau giữa các gia đình. Với những hộ có nguồn thu bấp bênh, chi phí thiết yếu tăng hoặc nhiều người phụ thuộc, khoản tiền dành cho tích lũy vẫn hạn hẹp.

GDP Việt Nam quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ, đưa mức tăng chín tháng lên 9,01%, theo Cục Thống kê. Hoạt động sản xuất, kinh doanh mở rộng cũng đi cùng sự cải thiện thu nhập: bình quân chín tháng, người lao động nhận 9,1 triệu đồng mỗi tháng, tăng 9,1%, theo số liệu VOV dẫn từ cơ quan thống kê.

Đời sống của từng hộ cần được nhìn gần hơn. Sau khi trả tiền nhà, thực phẩm, đi lại và các nghĩa vụ khác, phần còn lại phụ thuộc vào mức thu cụ thể, nhu cầu chi tiêu và sự đều đặn của công việc. Chính những khác biệt này lý giải vì sao tăng trưởng cao vẫn đi cùng sức ép sinh hoạt ở một bộ phận dân cư.

Thu nhập không tăng đều giữa các ngành

Trong quý III, lao động dịch vụ có thu nhập bình quân 10,9 triệu đồng mỗi tháng; công nghiệp và xây dựng đạt 9,9 triệu đồng. Với nông, lâm nghiệp và thủy sản, mức này là 5,4 triệu đồng. Riêng nhóm cuối giảm 1,4% so với quý trước, dù vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước.

Người có thu nhập giảm trong kỳ gần nhất khó cảm nhận sự cải thiện qua mức bình quân của cả nền kinh tế.

Để hiểu khoảng cách ấy, cần phân biệt quy mô sản xuất với nguồn tiền từng người nhận được. GDP đo giá trị hàng hóa, dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong lãnh thổ một quốc gia. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), chỉ tiêu này chưa phản ánh đầy đủ mức sống và cách thành quả kinh tế được phân phối giữa người dân.

Giá trị tạo thêm có thể trở thành tiền công, lợi nhuận doanh nghiệp hoặc những khoản thu khác. Chẳng hạn, doanh nghiệp đầu tư máy móc để tăng sản lượng chưa chắc cần tuyển thêm tương ứng số lao động. Tiền lương còn phụ thuộc vào năng suất, nhu cầu tuyển dụng và cách phân bổ nguồn lực. Tốc độ tăng sản xuất vì thế có thể khác tốc độ cải thiện thu nhập.

Cơ cấu tăng trưởng cũng cho thấy cơ hội mở rộng không đồng đều. Chín tháng năm 2026, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%, còn nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%. Mức hưởng lợi của người lao động vẫn tùy thuộc ngành nghề, vị trí và công việc cụ thể.

Với đầu tư hạ tầng, lợi ích còn có độ trễ. Công trường tạo việc làm trong giai đoạn xây dựng; hiệu quả giảm thời gian vận chuyển, mở rộng thị trường phải chờ công trình hoàn thành và được khai thác. Hộ sống xa khu vực hưởng lợi trực tiếp có thể chưa thấy khoản thu thay đổi trong thời gian đó.

Ngay trong cùng một ngành, hoàn cảnh gia đình tiếp tục tạo khác biệt. Khoản lương của người duy nhất có việc làm phải trang trải cho cả hộ, nên mức thu nhập cá nhân chưa cho biết đầy đủ khả năng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt.

Chi phí thiết yếu thu hẹp khoản để dành

Một chuyến du lịch có thể hoãn, thiết bị mới có thể mua sau. Tiền thuê nhà, thực phẩm và chi phí đi làm lại cần thanh toán thường xuyên. Khi các khoản khó cắt giảm tăng lên, ngân sách gia đình phải điều chỉnh từ những phần còn lại.

Áp lực này thể hiện trong dữ liệu giá. CPI bình quân chín tháng năm 2026 tăng 4,52% so với cùng kỳ. Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,68%; nhóm giao thông tăng 6,06%, theo Cục Thống kê. Cả hai tăng cao hơn chỉ số chung.

Tác động đến mỗi hộ tùy thuộc tỷ trọng chi tiêu. Gia đình thuê nhà, di chuyển nhiều có cơ cấu ngân sách khác với hộ đã có chỗ ở, làm việc gần nhà. Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) giải thích chỉ số lạm phát sử dụng rổ hàng hóa, dịch vụ đại diện, trong khi từng gia đình có thói quen mua sắm riêng.

Chi phí nhà ở, đi lại và sinh hoạt thiết yếu tạo sức ép khác nhau lên ngân sách từng hộ gia đình.
Thu nhập bình quân tăng chưa phản ánh đầy đủ khả năng chi tiêu của từng gia đình. (Nguồn: Đại Đoàn Kết)

Mặt bằng giá cao còn gây sức ép ngay cả khi tốc độ tăng giá chậm lại.

Nếu một mặt hàng tăng giá rồi giữ nguyên, người mua vẫn phải trả nhiều tiền hơn trước cho cùng lượng hàng. Khi thu nhập chưa kịp điều chỉnh, khoản chi ấy chiếm phần lớn hơn trong ngân sách. Gia đình phải giảm nhu cầu khác hoặc chấp nhận tiết kiệm ít hơn.

Ở chiều thu nhập, mức tăng bình quân 9,1% trong chín tháng cao hơn mức tăng CPI 4,52% cùng kỳ. Số liệu cho thấy sự cải thiện ở quy mô chung. Tuy nhiên, đây đều là chỉ tiêu tổng hợp: một bộ phận lao động được tăng thu nhập ít hơn mức bình quân, còn rổ chi tiêu thực tế của họ khác rổ đại diện dùng để tính CPI.

Nhu cầu phát sinh cũng làm thay đổi phần tiền còn lại. Có thêm người phụ thuộc hoặc phải chi cho chăm sóc sức khỏe khiến một gia đình chịu áp lực lớn hơn, ngay cả khi lương tăng. Đánh giá mức sống vì vậy cần xem đồng thời khoản thu, cơ cấu chi và những nghĩa vụ phải đáp ứng.

Thu nhập bấp bênh làm giảm khả năng tích lũy

Một tháng kiếm được khá chưa bảo đảm cho tháng tiếp theo. Với người nhận tiền theo ngày công hoặc đơn hàng, thời gian thiếu việc dễ làm hụt ngân sách. Khi khoản dự phòng nhỏ, một đợt ốm đau vừa khiến nguồn thu giảm, vừa phát sinh thêm chi phí.

Quy mô việc làm phi chính thức cho thấy vấn đề này cần được quan tâm. Bình quân chín tháng năm 2026, Việt Nam có 32,4 triệu lao động thuộc nhóm này, chiếm 61,5% tổng số người có việc làm. Tỷ lệ đã giảm 2 điểm phần trăm so với cùng kỳ, nhưng vẫn chiếm phần lớn.

Bảo vệ xã hội giúp hạn chế tác động của những biến cố ấy. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chỉ ra thiếu khả năng tiếp cận các cơ chế bảo vệ là khó khăn lớn của nhiều lao động phi chính thức. Khi hỗ trợ thu nhập và chăm sóc sức khỏe còn hạn chế, người lao động phải tự xoay xở nhiều hơn trong thời gian không thể làm việc.

Sự đều đặn của công việc vì thế có ý nghĩa trực tiếp với kế hoạch chi tiêu. Một nguồn thu cao nhưng thường xuyên gián đoạn vẫn khiến gia đình khó xác định khoản dành cho tiết kiệm. Chất lượng việc làm cần được xem cùng số người có việc làm khi đánh giá đời sống.

Ở cấp hộ gia đình, OECD sử dụng thu nhập khả dụng thực tế bình quân đầu người để theo dõi nguồn lực dành cho tiêu dùng và tiết kiệm. Chỉ tiêu này xét khoản thu sau thuế và đóng góp xã hội, bao gồm trợ cấp bằng tiền, rồi điều chỉnh theo giá tiêu dùng. Cách đo gắn sát hơn với số tiền hộ có thể sử dụng.

Trong những quý tới, đặt GDP cạnh thu nhập thực tế, độ ổn định công việc và khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu sẽ giúp đánh giá sự lan tỏa của tăng trưởng. Với từng gia đình, thay đổi rõ nhất là nguồn thu đều đặn hơn, chi phí bắt buộc phù hợp với khả năng chi trả và khoản dự phòng dần được tích lũy.