Người Việt khởi nghiệp: Giấc mơ nhỏ hay hoài bão lớn?

Một cơ sở kinh doanh nuôi sống gia đình và một doanh nghiệp muốn vươn ra quốc tế theo đuổi những mục tiêu khác nhau. Đánh giá khởi nghiệp vì thế cần nhìn vào giá trị tạo ra, khả năng tồn tại và năng lực mở rộng, thay vì chỉ xét quy mô ban đầu.

Chín tháng năm 2026, Việt Nam có 149,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 3,2% so với cùng kỳ. Vốn đăng ký bình quân đạt 12,6 tỷ đồng mỗi doanh nghiệp, theo Cục Thống kê.

Trong cách gọi thông thường, khởi nghiệp bao gồm cả mở cửa hàng, lập xưởng sản xuất và phát triển sản phẩm công nghệ. Tuy nhiên, một cơ sở phục vụ khách hàng địa phương có bài toán khác với startup tìm kiếm thị trường lớn và vốn mạo hiểm. Đặt chúng trên cùng thước đo dễ dẫn đến nhận xét vội vàng về khát vọng của người Việt.

Quy mô nhỏ có thể là một lựa chọn

Với một cửa hàng, khách quay lại đều đặn và khoản tiền còn lại sau chi phí có thể quan trọng hơn tốc độ mở thêm điểm bán. Một xưởng gia công lại cần giữ chất lượng, giao đúng hẹn và bảo đảm thu nhập cho thợ. Đó là những mục tiêu kinh doanh cụ thể, có giá trị với người chủ và cộng đồng xung quanh.

Bức tranh được nêu trong Nghị quyết 68-NQ/TW, ban hành ngày 4/5/2025, ghi nhận khu vực kinh tế tư nhân có hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động. Văn bản cũng chỉ ra phần lớn doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa.

Quy mô ấy cần được xem cùng hiệu quả hoạt động. Doanh thu cao chưa bảo đảm người chủ có thu nhập tốt nếu tiền thuê, nhân công, hao hụt và chi phí bán hàng cùng tăng. Ngược lại, một cơ sở ít lao động vẫn có thể tạo tích lũy khi phục vụ đúng nhu cầu và kiểm soát được chi phí.

Cũng có những giới hạn khiến việc mở rộng phải chờ.

Mở thêm cửa hàng đồng nghĩa với tiền đặt cọc, hàng tồn kho và đội ngũ quản lý mới. Với xưởng sản xuất, nhận đơn lớn có thể kéo theo nhu cầu mua nguyên liệu trước khi thu được tiền. Nếu khoản dự phòng còn mỏng, lựa chọn đi chậm giúp người kinh doanh giữ khả năng xoay xở khi sức mua hoặc tiến độ thanh toán thay đổi.

Vấn đề nằm ở việc phân biệt một lựa chọn phù hợp với tình trạng bị mắc kẹt. Có người chủ động duy trì quy mô để giữ chất lượng và nhịp sống. Có cơ sở muốn lớn lên nhưng thiếu vốn, người quản lý hoặc đầu ra ổn định. Hai hoàn cảnh này đòi hỏi cách hỗ trợ khác nhau.

Khả năng đứng vững của cơ sở hiện tại là điều kiện để tính bước tiếp theo. Sự lệ thuộc vào người chủ, hiệu quả lao động và thu nhập thực tế cần được xem cùng số cửa hàng, số nhân viên.

Hoài bão lớn được kiểm chứng bằng năng lực

FPT khởi đầu năm 1988 với 13 nhà khoa học. Trong lịch sử phát triển do doanh nghiệp công bố, mốc năm 1999 gắn với chiến lược toàn cầu hóa, lấy xuất khẩu phần mềm làm mũi nhọn.

Doanh thu dịch vụ công nghệ thông tin cho thị trường nước ngoài năm 2025 đạt 35.382 tỷ đồng, tăng 14,3%, theo thông điệp Tổng giám đốc FPT.

Trụ sở Tập đoàn FPT với các tòa nhà văn phòng hiện đại và biểu tượng FPT phía trước, minh họa sự phát triển của doanh nghiệp công nghệ Việt Nam từ quy mô nhỏ đến mở rộng thị trường quốc tế.
Từ khởi đầu với 13 nhà khoa học năm 1988, FPT từng bước phát triển thành tập đoàn công nghệ hoạt động trên thị trường quốc tế, cho thấy tham vọng mở rộng cần đi cùng năng lực quản trị, chất lượng dịch vụ và chiến lược phát triển dài hạn. (Nguồn: Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền Tệ)

Trường hợp này cho thấy khởi đầu nhỏ vẫn có thể đi cùng thị trường rộng. Nhưng giữa ý định và kết quả là khả năng tổ chức đội ngũ, đáp ứng yêu cầu khách hàng và duy trì chất lượng khi khối lượng công việc tăng. Những năng lực ấy phải được xây dựng, không tự xuất hiện khi doanh nghiệp có thêm vốn.

Thị trường vốn cũng có những thước đo riêng. Báo cáo Vietnam Innovation & Private Capital Report 2026, do Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia cùng các đối tác thực hiện, ghi nhận vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 509 triệu USD.

Tổng đầu tư tư nhân trong báo cáo lên đến khoảng 4,5 tỷ USD qua 149 giao dịch, với phần lớn giá trị thuộc vốn cổ phần tư nhân. Việc tách các nhóm vốn này giúp tránh hiểu toàn bộ số tiền đó đều được rót cho startup.

Được rót vốn là một cột mốc huy động nguồn lực. Để đánh giá việc kinh doanh, vẫn phải xem khách hàng có tiếp tục trả tiền, chi phí phục vụ có được kiểm soát và sản phẩm giải quyết nhu cầu đến đâu. Một vòng gọi vốn lớn chưa trả lời thay những câu hỏi vận hành đó.

Với doanh nghiệp muốn nhân rộng, phép thử còn nằm ở khả năng lặp lại kết quả. Chi nhánh mới có giữ được chất lượng? Nhân sự được tuyển thêm có làm việc hiệu quả khi người sáng lập không trực tiếp giám sát? Nếu doanh số tăng cùng sự phụ thuộc vào người chủ, giới hạn vận hành sẽ sớm trở thành giới hạn tăng trưởng.

Tham vọng mở rộng sẽ được kiểm chứng qua những câu trả lời cụ thể như vậy.

Muốn lớn lên cần điều kiện để thực hiện

Một nghiên cứu về ứng dụng phần mềm tại Việt Nam bắt đầu với 605 doanh nghiệp quan tâm tham gia chương trình triển khai từ năm 2021. Nhóm nghiên cứu chia ngẫu nhiên các doanh nghiệp thành hai nhóm, trong đó một nhóm được đào tạo và hỗ trợ dùng nền tảng quản trị.

Gần 80% doanh nghiệp thuộc nhóm được hỗ trợ sử dụng nền tảng sau đào tạo ban đầu. Khoảng 18 tháng sau, tỷ lệ còn 35%.

Nhóm nghiên cứu World Bank công bố kết quả tháng 5/2025, ghi nhận trở ngại về thời gian và nhân sự phụ trách. Chương trình diễn ra trong bối cảnh giãn cách do COVID-19. Các quan sát cho thấy ngay cả khi được tiếp cận phần mềm miễn phí trong một năm, doanh nghiệp vẫn phải bố trí người và tổ chức lại công việc để duy trì sử dụng.

Từ trường hợp này, hỗ trợ công cụ cần gắn với cách tổ chức công việc. Dữ liệu phải được cập nhật, có người phụ trách và kết quả được dùng trong quyết định. Nếu quy trình cũ vẫn giữ nguyên, hiệu quả hỗ trợ sẽ bị hạn chế.

Bên ngoài doanh nghiệp, tính rõ ràng của môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Phân tích World Bank công bố tháng 4/2025 ghi nhận thời gian cấp phép hoạt động dài hơn có liên hệ với mức đổi mới và đầu tư nghiên cứu, phát triển thấp hơn. Các tác giả đề nghị chú trọng cách thực thi quy định, giảm sự bất định và chi phí tuân thủ.

Ở cấp chính sách, Nghị quyết 68 đặt mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động và ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là mục tiêu phát triển, cần được theo dõi cùng khả năng tồn tại, nâng năng suất và mở rộng thị trường của doanh nghiệp.

Toàn cảnh trung tâm TP.HCM với các tòa nhà cao tầng, tháp Bitexco, sông Sài Gòn và hệ thống giao thông hiện đại, minh họa môi trường kinh doanh và phát triển doanh nghiệp tại Việt Nam.
Hạ tầng hiện đại, môi trường kinh doanh minh bạch và khả năng tiếp cận nguồn lực là những điều kiện quan trọng giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng quy mô và từng bước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. (Nguồn: Tạp chí Sỡ hữu Trí tuệ và Sáng tạo)

Giấc mơ của người khởi nghiệp Việt Nam có nhiều quy mô và cũng thay đổi theo từng giai đoạn. Điều đáng theo dõi là người muốn mở rộng có tiếp cận được nguồn lực phù hợp, còn người chọn kinh doanh nhỏ có nâng được hiệu quả và thu nhập hay không. Khi những điều kiện ấy tốt lên, cả nhu cầu lập nghiệp lẫn tham vọng đi xa đều có thêm cơ hội trở thành kết quả thực tế.